Đừng làm một Chuyên gia tâm lý “công nghiệp”

Một trong những cái bẫy nghề nghiệp dễ gặp nhất, đặc biệt là những ai hướng tới trị liệu, là tin rằng chỉ cần đọc đúng chuyên ngành là đủ mà ko đọc đa ngành. Nghĩ rằng học tâm lý là đọc mỗi sách trường phái mình theo, đọc guideline, đọc diagnosis criteria, đọc các protocol can thiệp. Những thứ đó cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, bạn rất dễ trở thành một nhà tâm lý hay therapist bị tách rời khỏi thế giới thật mà thân chủ đang sống

Con người thật không sống trong một bản case formulation. Họ sống trong một bối cảnh cụ thể gồm gia đình, nhà ở, tiền bạc, di cư, kỳ thị, bệnh nền, văn hóa, công nghệ, luật pháp… Khi người làm tâm lý không đọc rộng ra ngoài ngành của mình, họ rất dễ trở thành một kiểu chuyên gia bị tách khỏi đời sống. Họ có thể nói đúng những điều cần nói trong phòng trị liệu, nhưng lại không hiểu được thế giới bên ngoài đang gây áp lực, bào mòn và làm tổn thương thân chủ theo cách nào.

Chính vì con người luôn sống trong những bối cảnh phức tạp như vậy mà khoa học sức khỏe từ rất sớm đã cảnh báo về nguy cơ nhìn con người bằng một ống kính quá hẹp. Mô hình biopsychosocial ra đời để nhấn mạnh rằng bệnh tật và đau khổ không bao giờ chỉ có một nguyên nhân, mà luôn đan xen giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội. Với người làm tâm lý, nếu bạn chỉ tập trung vào tầng tâm lý cá nhân mà bỏ qua các điều kiện sống rất cụ thể của thân chủ, bạn rất dễ vô tình đẩy trách nhiệm về phía họ. Khi đó, những lời khuyên như thay đổi suy nghĩ, quản lý cảm xúc hay chăm sóc bản thân có thể trở thành áp lực đạo đức. Thân chủ kcó thể cảm thấy mình yếu kém vì không làm nổi những điều được xem là hiển nhiên, trong khi phần lớn khó khăn của họ đến từ những hoàn cảnh vượt ngoài khả năng kiểm soát cá nhân.

Con người lớn lên và vận hành trong các hệ thống lồng vào nhau. Gia đình, trường học, công việc, luật pháp, kinh tế, văn hóa và cả thời đại lịch sử đều để lại dấu vết trong cách một người nghĩ về bản thân và thế giới. Khi bạn đọc thêm sociology, anthropology hoặc history, bạn sẽ dễ nhìn thấy những thứ mà phòng trị liệu không giải thích nổi.

Ví dụ, burnout không chỉ là vấn đề coping cá nhân, mà gắn với văn hóa hiệu suất, thị trường lao động bấp bênh và sự bình thường hóa của văn hoá OT. Cô đơn không chỉ là thiếu kỹ năng xã hội, mà còn liên quan đến đô thị hóa, app hẹn hò, di cư và đứt gãy cộng đồng. Trầm cảm không chỉ là rối loạn khí sắc, mà còn liên quan đến bất bình đẳng, nghèo đói, bạo lực và thiếu tiếp cận dịch vụ chăm sóc

Một lợi ích khác của việc đọc rộng là tránh việc quy chụp trải nghiệm thân chủ thành vài ba cơ chế khoa học: đó là việc lọc mọi trải nghiệm của thân chủ qua một số khung quen thuộc như trauma, attachment, schemas, hay reinforcement. Bản thân các khung này không sai. Chúng ra đời để giúp ta hiểu con người tốt hơn. Vấn đề chỉ xuất hiện khi một khung trở thành ngôn ngữ duy nhất mà therapist dùng để lắng nghe. Khi đó, therapist không còn nghe thân chủ kể câu chuyện của họ, mà vô thức “dịch” câu chuyện ấy sang thuật ngữ mình đã quen.

Thân chủ nói về nợ nần và áp lực tài chính kéo dài, nhưng trong tai therapist nó biến thành avoidance hoặc anxiety disorder. Thân chủ nói về phân biệt đối xử, về việc liên tục bị coi thường hoặc loại trừ, nhưng therapist lại nghe thành cognitive distortion hoặc hypersensitivity. Thân chủ nói về kiệt sức vì công việc, vì không còn ranh giới giữa sống và làm, nhưng nó được diễn giải thành thiếu kỹ năng quản lý thời gian hay vấn đề về motivation. Ở đây, không phải therapist ác ý hay kém năng lực, mà là họ đã quen với việc dùng một hệ ngôn ngữ nhất định để làm cho thế giới trở nên gọn gàng và có thể xử lý được.

Đọc ngoài ngành chính là cách để ko bị rơi vào cái quán tính đó. Sociology giúp therapist nhìn thấy các cấu trúc xã hội đang định hình trải nghiệm cá nhân như thế nào, từ giai cấp, giới, chủng tộc đến lao động và di cư. Anthropology giúp hiểu rằng những gì ta gọi là triệu chứng hay hành vi bất thường đôi khi là cách một nền văn hóa diễn đạt đau khổ và thích nghi. Lịch sử y học nhắc ta rằng các khái niệm chẩn đoán không phải chân lý vĩnh cửu, mà được hình thành trong những bối cảnh lịch sử và đạo đức rất cụ thể. Philosophy of science dạy ta đặt câu hỏi về chính công cụ mình đang dùng: khái niệm này được tạo ra để giải thích điều gì, phạm vi áp dụng của nó đến đâu, và nó làm mờ đi những khía cạnh nào của thực tại.

Trước khi vội vàng gắn nhãn hay can thiệp, therapist học cách tự hỏi: mình đang dùng khung này để hiểu thân chủ, hay để ép trải nghiệm của họ vừa với thứ mình đã học. Có điều gì trong câu chuyện này không thể hoặc không nên được dịch hoàn toàn sang thuật ngữ chuyên môn. Và điều gì sẽ bị đánh mất nếu ta chỉ giữ lại phần có thể đo, phân loại, và can thiệp kỹ thuật.

Và tất nhiên ko thể bỏ qua sự quan trọng của therapeutic alliance (bài dưới). Hiệu quả trị liệu không chỉ đến từ kỹ thuật. Nhiều tổng quan và meta analysis cho thấy ttherapeutic alliance có mối liên hệ ổn định và đáng kể với kết quả điều trị, lặp lại ở nhiều phương pháp và bối cảnh khác nhau. Mà alliance không chỉ hình thành từ cách phản hồi cảm xúc hay đặt câu hỏi, mà từ việc therapist có hiểu thế giới mà thân chủ đang sống hay không. Muốn xây alliance với một người nhập cư, bạn cần hiểu cảm giác bất an kéo dài về cư trú và tương lai. Muốn làm việc với một người bị kỳ thị, bạn cần hiểu họ đã học cách im lặng và tự kiểm duyệt bản thân như thế nào. Muốn đồng hành với một người sống trong bạo lực gia đình hay mang mặc cảm giai cấp, bạn cần hiểu những áp lực đạo đức và xã hội đang đè lên họ mỗi ngày. Đọc rộng là điều kiện để alliance có thể đứng vững.

Đọc rộng còn là một cách rất thực tế để rèn cultural humility. Theo Hook và cộng sự, cultural humility là một lập trường trong quan hệ với người khác, trong đó người làm chuyên môn không mặc định mình “biết hơn”, luôn ý thức rằng hiểu biết của mình có giới hạn và dễ bị thiên kiến chi phối. Đây là một kỹ năng nhận thức và quan hệ phải được luyện tập liên tục. Muốn có cultural humility thật sự, bạn cần tri thức cụ thể về những thế giới sống khác với mình, và phần lớn tri thức đó không nằm trong textbook tâm lý. Khi bạn đọc lịch sử thuộc địa, bạn sẽ hiểu vì sao một số nhóm mang theo cảm giác xấu hổ về tri thức và tiếng nói của chính mình. Khi bạn đọc disability studies, bạn sẽ nhận ra rằng khái niệm “functional” đôi khi phản ánh chuẩn mực xã hội hơn là nhu cầu thật của con người…

APA nhấn mạnh điều này qua định nghĩa evidence based practice trong psychology, mà là sự kết hợp giữa ba yếu tố: bằng chứng nghiên cứu tốt nhất hiện có, chuyên môn lâm sàng của người làm nghề, và đặc điểm, văn hóa cùng mong muốn của thân chủ.

Điều này có nghĩa là bằng chứng khoa học không tự động bước vào phòng trị liệu dưới dạng một protocol có thể dùng y nguyên cho mọi người. Nó luôn phải đi qua bối cảnh sống cụ thể của từng thân chủ, và bạn ko đọc nhiều thì ko rõ được. Bạn có thể rất giỏi CBT, psychodynamic hay ACT. Nhưng nếu bạn không hiểu thị trường lao động đang bào mòn sự tự trọng của người trẻ ra sao, không hiểu mạng xã hội đang làm gì với sự chú ý, không hiểu kỳ thị buộc con người phải im lặng và phòng vệ ra sao, thì trị liệu rất dễ diễn ra trong một không gian ngột ngạt. Trong không gian đó, bạn vẫn có thể nói những điều đúng về mặt kỹ thuật, nhưng khó chạm tới điều đang thực sự làm thân chủ mệt mỏi và kiệt quệ.

Một psychologist hoặc therapist tốt không cần biết mọi thứ hay trở thành chuyên gia của nhiều ngành. Điều quan trọng hơn là hình thành một thói quen tư duy: luôn đặt con người trước mặt mình vào bối cảnh sống rộng hơn của họ, và luôn nhớ rằng khó khăn tâm lý không xuất hiện trong khoảng trống tách rời khỏi xã hội. Đọc rộng ra ngoài chuyên ngành là cách đơn giản và bền vững nhất để làm nghề vừa đúng về mặt khoa học, vừa giữ được cái “nhân văn” của ngành. Math is nothing without common sense

Tác giả: Sun (Sơn Phan Văn Lê)

Bình luận về bài viết này